Cloud computing là gì?

by

Cloud computing là gì?

Theo AWS, Cloud Computing hay điện toán đám mây là việc phân phối các tài nguyên CNTT theo nhu cầu qua Internet với chính sách thanh toán theo mức sử dụng. Thay vì mua, sở hữu hay bảo trì các trung tâm dữ liệu và máy chủ vật lý, các công ty có thể tiếp cận các dịch vụ công nghệ như năng lượng điện đoán, lưu trữ  và cơ sở dữ liệu khi cần thiết từ các nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây.

Cloud computing hoạt động ra sao?

Thay vì sở hữu cơ sở hạ tầng hoặc trung tâm dữ liệu của riêng mình, các công ty sẽ thuê quyền truy cập vào mọi thứ từ ứng dụng cho đến lưu trữ từ nhà cung cấp dịch vụ đám mây.

Lợi ích rõ ràng nhất khi sử dụng dịch vụ cloud computing đó là các tổ chức tránh được chi phí tăng vọt cùng với mức độ phức tạp khi duy trì hạ tầng IT riêng,thay vào đó chỉ cần mua những gì cần sử dụng và khi nào cần sử dụng mà thôi.

Ở chiều ngược lại, các nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây được hưởng lợi từ quy mô kinh tế khi cung cấp các dịch vụ tương tự cho số lượng lớn khách hàng.

Những dịch vụ được cung cấp qua cloud computing

Dịch vụ điện toán đám mây bao gồm rất nhiều tùy chọn từ cơ bản đến rất phức tạp. Từ lưu trữ dữ liệu đến xử lý ngôn ngữ tự nhiên bằng AI. Hầu hết những dịch vụ nào ngoài phần cứng máy tính ra đều có thể tìm thấy trên Cloud. Ngay cả trò chơi điện tử bây giờ cũng có cả gaming cloud.

Ví dụ về cloud computing

Gmail, DropBox, hay backup ảnh trên smartphone đều là các ví dụ về điện toán đám mây gần gũi với người dùng cơ bản. Đối với các công ty lớn, họ có thể sẽ lưu dữ liệu của mình trên mây hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào cloud để cung cấp dịch vụ của mình cho người dùng, mà tiêu biểu là Netflix.

Lịch sử của cloud computing

Thuật ngữ Cloud computing ra đời vào khoảng những năm 2000, nhưng ý tưởng về dịch vụ điện toán đã có từ rất lâu, những năm 1960. Khi những công ty có thể thuê các máy tính cỡ lớn thay vì tự phải mua.

Loại hình thuê máy tính này nhanh chóng biến đổi do sự phát triển của máy tính cá nhân cũng như sự ra đời của các trung tâm dữ liệu khổng lồ của các doanh nghiệp. Sự xuất hiện của điện toán tiện ích và điện toán lưới từ 1990 – 2000 và sau đó là điện toán đám mây mà tiêu biểu là Amazon Web Services (AWS).

Các mô hình cloud computing

Mô hình Cloud services

Điện toán đám mây có thể chia làm ba loại mô hình: Infrastructure-as-a-Service (IaaS), Platform-as-a-Service (PaaS), Software-as-a-Service (SaaS)

Cơ sở hạ tầng dưới dạng dịch vụ (IaaS)

Đây là tầng dưới cùng, đề cập đến những phần cơ bản nhất của máy tính có thể được thuê: máy chủ vật lý hoặc máy chủ ảo. Điều này hấp dẫn các công ty muốn xây dựng các ứng dụng từ đầu và kiểm soát gần như mọi mặt. Đòi hỏi các công ty phải có khả năng kỹ thuật để quản lý ở cấp độ cơ sở này. Một nghiên cứu của Oracle chỉ ra rằng 2/3 người dùng IaaS cho biết sử dụng cơ sở hạ tầng giúp họ dễ dàng đổi mới, cắt giảm thời gian triển khai ứng dụng và chi phí bảo trì. Tuy nhiên một nửa cho biết IaaS không đủ bảo mật cho dữ liệu quan trọng.

Nền tảng dưới dạng dịch vụ (Paas)

Đây là tầng tiếp theo, ngoài việc bao gồm IaaS, tầng này sẽ bao gồm các công cụ và phần mềm mà các nhà phát triển cần để xây dựng các ứng dụng trên cùng: có thể bao gồm phần mềm trung gian, công cụ quản lý cơ sở dữ liệu, hệ điều hành và nhiều các công cụ khác.

Phần mềm dưới dạng dịch vụ (SaaS)

SaaS là tầng trên cùng, cung cấp các ứng dụng dưới dạng dịch vụ, đây là phiên bản điện toán đám mây mà hầu hết mọi người sử dụng hàng ngày. Chúng ta sẽ truy cập các dịch vụ SaaS này thông qua trình duyệt hoặc ứng dụng. Ví dụ về các ứng dụng được cung cấp dưới dạng dịch vụ như Microsoft Office 365, Google Apps, Amazon Web Services, Slack.

Phân loại cloud computing

Các mô hình cloud computing

Public cloud

Theo Azure, public cloud hay đám mây công cộng là dịch vụ điện toán được cung cấp bởi bên thứ 3 rộng rãi thông qua internet toàn cầu cho bất kỳ ai muốn sử dụng hoặc mua. Chúng có thể miễn phí hoặc được bán theo nhu cầu, cho phép khách hàng chỉ trả tiền cho mỗi lần sử dụng CPU, dữ liệu lưu trữ hay băng thông mà mình tiêu thụ.

Private cloud

Hay đám mây riêng, được định nghĩa là các dịch vụ điện toán được cung cấp thông qua internet hoặc mạng nội bộ riêng thay vì công khai. Chính vì thế nó còn có tên là đám mây nội bộ (internal cloud) hay đám mây doanh nghiệp (corporate cloud). Private cloud đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp giống public cloud mà đem lại thêm mức độ bảo mật và quyền riêng tư cao hơn thông qua tường lửa của công ty để đảm bảo các dữ liệu nội bộ nhạy cảm không thể bị truy cập bởi bên ngoài. Nhược điểm là bộ phận IT cần có trình độ để chịu trách nhiệm quản lý đám mây của mình. Vì vậy, private cloud đòi hỏi chi phí nhân sự, quản lý và bảo trì giống như sở hữu hạ tầng vật lý truyền thống.

Hybrid cloud

Hybrid cloud (đám mây lai) là môi trường điện toán kết hợp giữa public cloud và private cloud bằng cách cho phép dữ liệu và ứng dụng được chia sẻ giữa hai loại cloud này. Điện toán đám mây lai cung cấp cho doanh nghiệp khả năng mở rộng quy mô tại chỗ lên đám mây công cộng khi có lỗi quá tải. Các tổ chức sử dụng public cloud cho những tác vụ cơ bản và dữ liệu không nhạy cảm, trong khi vẫn giữ những ứng dụng và dữ liệu quan trọng an toàn sau tường lửa.

Lợi ích của cloud computing

Lợi ích chính xác còn tùy thuộc vào loại dịch vụ đám mây được sử dụng, nhưng về cơ bản, sử dụng cloud computing nghĩa là các công ty không phải mua hoặc tự duy trì cơ sở hạ tầng máy tính riêng của họ.

Không còn cần mua máy chủ, tự cập nhật ứng dụng và hệ điều hành hay xử lý phần cứng khi hỏng hóc – tất cả đều được thực hiện bởi nhà cung cấp. Một công ty chuyên cung cấp các dịch vụ điện toán có nhiều kinh nghiệm hơn so với một doanh nghiệp nhỏ tự quản lý cơ sở hạ tầng IT, chính vì thế mà dịch vụ đám mây cung cấp dịch vụ an toàn và hiệu quả hơn cho người dùng cuối.

Các công ty có thể triển khai dự án, tạo ra các dịch vụ mới nhanh hơn trước bởi không mất thời gian và công sức để mua sắm CNTT như truyền thống. Và nếu một ứng dụng mới trở nên phổ biến thì khả năng mở rộng của nó sẽ dễ dàng và nhanh hơn nhiều so với trước.

Đối với một công ty có mức sử dụng tăng vọt ở một thời điểm ngắn trong tháng hoặc năm thì cloud computing mang lại lợi ích tài chính rất lớn. Thay vì sở hữu phần cứng và phần mềm nhàn rỗi trong phần lớn thời gian, các công ty chỉ cần mở rộng gói dịch vụ mình mua trong khoảng thời gian cần thiết.

Nhược điểm của cloud computing

Cloud computing không hẳn là rẻ hơn các hình thức điện toán khác, cũng như việc đi thuê không phải lúc nào cũng rẻ hơn là mua để sử dụng lâu dài. Nếu một ứng dụng có thể dự đoán được hạ tầng IT cần thiết lâu dài thì việc tự xây dựng có thể sẽ tối ưu hơn.

Mặc dù rất dễ dàng để bắt đầu sử dụng điện toán đám mây, nhưng việc di chuyển dữ liệu hoặc ứng dụng hiện tại sang đám mây có thể phức tạp và tốn kém.

Và tất nhiên, bạn chỉ có thể truy cập các ứng dụng của mình nếu có kết nối internet (nhanh và ổn định).

Những gã khổng lồ trong làng cloud computing

Nếu nói về IaaS và Paas thì chỉ có số ít các nhà cung cấp lớn mà thôi. Dẫn đầu vẫn là Amazon Web Services, Microsoft’s Azure, Google, IBM và Alibaba.

Ảnh hưởng của vị trí địa lý tới cloud computing

Vấn đề về độ trễ: Nếu ứng dụng nằm ở một trung tâm dữ liệu ở phía bên kia trái đất hoặc ở phía bên mạng bị tắc nghẽn (đứt cáp quang chẳng hạn) thì có thể thấy kết nối của nó chậm chạp hơn so với mạng cục bộ.

Vấn đề về chủ quyền dữ liệu: Nhiều công ty lo lắng về việc dữ liệu của họ đang được lưu trữ ở đâu. Ví dụ các công ty châu Âu lo rằng dữ liệu khách hàng của họ khi được lưu trữ ở trung tâm dữ liệu tại Mỹ hoặc sở hữu bởi công ty Mỹ thì có thể bị truy cập bởi chính quyền Mỹ.

Leave a Comment